(Doanh nghiệp) - Doanh nghiệp thay vì phối hợp với cơ quan chống hàng giả lại quay sang thỏa hiệp với hàng giả để yên thân Áp lự...
(Doanh
nghiệp) - Doanh nghiệp thay vì phối hợp với cơ quan chống hàng
giả lại quay sang thỏa hiệp
với hàng giả để yên thân
![]() |
| Áp lực hàng giả từ Trung Quốc. |
Không
chỉ đơn thuần là "hàng thật đang sợ hàng giả", TS. Bùi Quang Tín - Khoa Quản trị
kinh doanh, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM tiếp tục nêu những bằng chứng chứng
minh "người ngay lại đang sợ kẻ gian".
Cùng
chung nhìn nhận với Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam
(VATAP), ông Bùi Quang Tín cho biết, đây đúng là nghịch lý nhưng ngặt nỗi nghịch
lý đó đang phổ biến và nỗi sợ hãi nêu trên của doanh nghiệp lại là thực
tế.
Vị
chuyên gia đặt câu hỏi: Vậy nỗi sợ hãi đó xuất phát từ đâu?. Tự trả lời cho câu
hỏi của mình, ông đưa ra mấy lý do.
Thứ
nhất, cách thức và cơ chế bảo vệ hàng thật cũng như doanh nghiệp làm ăn chính
đáng ở Việt Nam còn bị xem nhẹ, lỏng lẻo. Từ thông tư tới nghị định, cho tới các
văn bản chỉ đạo hướng dẫn rồi các cơ quan thực thi pháp luật... tất cả đều rất
đầy đủ. Nhưng xét một cách kỹ lưỡng có thể thấy, các cơ chế pháp luật của Việt
Nam vẫn chủ yếu là bảo vệ cho người tiêu dùng nhiều hơn là bảo vệ doanh
nghiệp.
Bởi
vì, khi phát hiện và xử lý hàng giả doanh nghiệp phải dựa vào các cơ chế pháp
luật. Thế nhưng, cách thức bảo vệ doanh nghiệp chưa cao, quyền lợi của doanh
nghiệp chưa được bảo vệ triệt để.
Từ
cơ chế đó, dẫn tới nguyên nhân thứ hai là tâm lý e ngại, sợ hãi dư luận của
doanh nghiệp. Một khi, cơ chế bảo vệ doanh nghiệp không triệt để thì các thông
tin hàng giả được công bố trước truyền thông, dư luận sẽ lại là thông tin gây
bất lợi cho doanh nghiệp gây ảnh hưởng tới uy tín, doanh thu, tới sự tồn tại của
doanh nghiệp. Đó là lý do vì sao doanh nghiệp làm ăn chân chính lại không mấy
khi mặn mà chống hàng giả.
Thứ
ba, cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ chống hàng giả hay nói đúng hơn là
người thực thi pháp luật chưa nghiêm. Đâu đó còn có hiện tượng móc nối, bắt tay
để hàng lậu, hàng gian, hàng giả tuồn vào trong nước tiêu thụ.
Trong
khi hàng thật trong nước lại gặp vô vàn những khó khăn, từ việc bị cán bộ nhũng
nhiễu, làm phiền, cho tới câu chuyện thuế, phí đè nặng.
Ở
đây cũng phải thừa nhận có một phần trách nhiệm của phía doanh nghiệp, sự e ngại
không muốn liên kết với phía cơ quan quản lý hoặc sự bắt tay thỏa hiệp, đàm phán
với đơn vị làm giả, làm nhái là cơ hội tạo đất sống cho hàng gian, hàng
giả.
"Tôi
nghe nhiều, khi phát hiện hàng giả, thay vì phối hợp với cơ quan chức năng họ
lại thỏa hiệp bằng cách đưa cho họ một số tiền khoảng mấy chục, mấy trăm triệu
để doanh nghiệp đó thu hồi và dừng lại. Đáng buồn ở chỗ, nếu theo đúng pháp
luật, doanh nghiệp làm hàng thật phải ở một vị thế rất cao trong khung bảo vệ
của luật pháp, tức là trong câu chuyện này, lẽ ra họ ở thế mạnh thì lại phải cúi
mình chấp nhận ở thế yếu cho yên chuyện", ông Tín cho biết.
Theo
ông, ở đây có nguyên nhân mất lòng tin như ông đã phân tích trước đó, còn có lý
do về chi phí. Do vẫn có những hiện tượng tiêu cực, nhũng nhiễu nên công việc
chống hàng giả thay vì của cơ quan chức năng lại trở thành nhiệm vụ của doanh
nghiệp. Những chi phí không chính thức thậm chí còn lớn hơn việc tự thỏa hiệp.
Điều này khiến nhiều doanh nghiệp nản chí, lựa chọn con đường dễ đi hơn, đỡ phức
tạp và đỡ tốn kém hơn.
![]() |
| Tem chống giả SMS |
Ở
nước ngoài, khi phát hiện có hàng giả, hàng nhái lập tức các cơ quan quản lý sẽ phải vào
cuộc, mọi thông tin sẽ được công bố công khai trên các phương tiện truyền thông,
các cơ quan quản lý cũng sử dụng mọi biện pháp để bảo vệ quyền lợi của doanh
nghiệp chân chính một cách tối đa. Đó chính là tiền đề giúp doanh nghiệp ngày
càng phát triển và tự tin sáng tạo và phát triển. Tuy nhiên, ở Việt Nam cơ chế
có đủ nhưng thực thi còn yếu, lỏng lẻo và thiếu hẳn tính nghiêm minh, công
bằng.
Ngoài
ra, ông Tín cho biết bản thân các doanh nghiệp cũng đang có vấn đề. Doanh nghiệp
chỉ lo phát triển sản phẩm, tìm kiếm doanh thu lợi nhuận, khác hàng nhưng thiếu
hẳn một bộ phận chuyên theo dõi, phát hiện và xử lý các thông tin chống hàng
giả. Công việc này hiện đang giao cho cơ quan chuyên trách đối ngoại, vừa lo đối
ngoại, vừa lo phát triển thương hiệu, lại vừa lo đối nội... do đó, cách thức và
khả năng tiếp, xử lý những thông tin bất lợi, ngăn chặn không cho nó lan rộng
trên thị trường còn chậm trễ, chưa hiệu quả.
"Tôi
đã từng ở nước ngoài, tôi chứng kiến cách làm việc của họ rất mau lẹ, nhanh gọn.
Mọi thông tin được xử lý triệt để. Và quan trọng hơn cả là chế tài pháp luật
luôn hướng tới mục đích bảo vệ doanh nghiệp", ông Tín nói.
Sưu tầm bởi: Tân Hoa Mai.


COMMENTS